Cơ chế tác dụng và dược tính của Pectin

Pectin như một phương pháp phòng ngừa cá nhân đối với nguy cơ nhiễm độc chì bởi nghề nghiệp.

(IM Trachtenberg, EP Krasnyuk, IP Lubyanova, V.F. Demchenko, I.G. Lampeca, TD Kharchenko. Viện Y học lao động AMS của Ukraine, Kiev)

  Chì được cho là một trong những chất độc nguy hiểm nhất, nằm trong một nhóm nhiều các chất độc công nghiệp, có thể gây ra nhiễm độc mãn tính do sự sử dụng rộng rãi trong một loạt các ngành công nghiệp.

Các công nhân tại mỏ và tại các nhà máy nấu chảy chì, những người tham gia sản xuất pin, hàn, in ấn, (cũng như trong hoạt động nghề nghiệp như: sản xuất thủy tinh pha lê và các sản phẩm gốm sứ, xăng pha chì, sơn chì), - thường xuyên tiếp xúc với chì và thường chịu những ảnh hưởng tiêu cực tới sức khỏe của tình trạng nhiễm độc chì.

Các nguồn không khí, đất và nước nằm gần với các nhà máy sản xuất trên cũng bị nhiễm độc chì. Sự tăng vọt hàm lượng chì được phát hiện gần đường cao tốc chính, tạo ra một mối đe dọa nhiễm độc chì đối với người lớn và trẻ em sống trong các khu vực này. Trẻ em đặc biệt nhạy cảm với nhiễm độc chì.

Một tính năng đặc biệt của chì là khả năng khử hoạt tính của các nhóm sulfhydryl, carboxyl và amin của phân tử protein, bao gồm các enzyme. Xác định được polytropicity chì – là khả năng gây tổn hại các cơ quan và hệ thống trong cơ thể của chì, mở ra sự đa dạng trong các triệu chứng lâm sàng của nhiễm độc kim loại.

 Trong số đó, các triệu chứng điển hình nhất là: đa dây thần kinh, rối loạn hệ thống thần kinh trung ương, thiếu máu do nhiễm độc chì, các hội chứng ở bụng, trong một số trường hợp dẫn đến sự gia tăng đau bụng do nhiễm độc chì và viêm gan. Một trong những ảnh hưởng sức khỏe tiêu cực của nhiễm độc chì đối với trẻ em là chậm tăng trưởng và chậm phát triển trí tuệ. Do khả năng tích lũy và lưu trữ trong cơ thể trong một thời gian dài của chì, tạo ra một lượng lớn chì được tích trữ trong xương (thời gian để loại bỏ chì từ xương là khoảng 20 năm), giải thích lý do tại sao trong thời cổ đại, hội chứng ngộ độc chì mãn tính đã được đặt theo tên của vị thần tượng trưng cho cái chết và tội ác Saturn – Sarturnism - Chứng ngộ độc chì. Kể từ đó, người ta tìm kiếm các phương pháp và cách thức ngăn chặn sự xâm nhập của chì vào cơ thể và các phương pháp có thể thúc đẩy sự bài tiết chì ra khỏi cơ thể. Hiện nay người ta biết đến rộng rãi một số các hợp chất phức tạp có thể loại bỏ chì ra khỏi cơ thể.

Các chất này, ví dụ như tetatsin (calcium disodium Edetate), pentamine, D-penicillamine, suktsimer, unitiol loại bỏ chì tích cực, nhưng thường gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng khôngcó lợi, và do đó không thích hợp cho việc sử dụng một cách có hệ thống để ngăn ngừa ngộ độc chì.

Trong những năm gần đây, để dự phòng nhiễm độc chì, các hợp chất phức tạp với nguồn gốc thực vật, đặc biệt là pectin, xuất hiện. Pectin là cơ sở tự nhiên của màng tế bào của các tế bào thực vật bậc cao, và cấu trúc hóa học của chúng được đại diện bởi methyl este của axit polygalacturonic. Pectin được tìm thấy với hàm lượng lớn trong nhiều loài thực vật, đặc biệt là củ cải, táo, trái cây họ cam quýt. Phân tử của pectin gồm chuỗi các anhydrit axit galacturonic kết nối bằng liên kết glycoside dễ dàng bị thủy phân.

Khi muối kim loại nặng được thêm vào một dung dịch hòa tan của pectin - những hợp chất ổn định không hòa tan được hình thành. Chúng được gọi là pectinic kim loại và không được hấp thu ở ruột. Phức hợp hay còn gọi là khả năng tạo phức của pectin là do sự hiện diện của nhóm carboxyl và nhóm hydroxyl của axit galacturonic trong phân tử của pectin polymer. Các hoạt động và sự ổn định của chất tạo phức phụ thuộc vào mức độ este hóa của pectin, nói cách khác, - tỷ lệ giữa nhóm carboxyl tự do và nhóm bị este hóa. Càng ít các pectin bị este hóa, càng nhiều các nhóm carboxyl tự do và hydroxyl hiện diện, cho phép tạo thành phức kim loại (pectinic kim loại) dễ dàng hơn.

Ngoài khả năng tạo thành phức hợp ổn định với kim loại, pectin như một dung dịch keo ưa nước, có khả năng hấp phụ mạnh (A.E Chichibabin, 1957). Pectin được este hóa thấp dễ dàng tạo pectinic kim loại, kể cả với chì; và pectin este hóa cao (methoxyl hóa) bao bọc thành ruột thông qua một cơ chế gel- phin lọc (lớp không pha trộn của nước), giảm sự hấp thu các phân tử nhỏ, chẳng hạn như các kim loại nặng và các hạt nhân phóng xạ qua đường ruột.

Pectin có thể “ràng buộc” các kim loại nặng cả từ bên ngoài thông qua đường tiêu hóa, và cũng ngăn ngừa sự tái hấp thu thứ phát kim loại nặng khi chúng xâm nhập vào đường tiêu hóa qua mật hoặc trong lượng dịch tiết tiêu hóa khác, sau đó đào thải chúng với phân.

Các vi sinh vật trong ruột thủy phân pectin một phần, tạo thành axit polygalacturonic và axit galacturonic, được tái hấp thu ở ruột và đi vào máu. Theo các quan điểm hiện đại, các nhóm carboxyl và hydroxyl của các axit này “ràng buộc” chì và các kim loại nặng khác trong máu và thúc đẩy loại bỏ chúng ra khỏi nơi tích trữ, cuối cùng đào thải chúng với nước tiểu.

Phân tử pectin có khả năng liên kết với chì. Pectin tích cực loại bỏ chì ra khỏi cơ thể theo đường nước tiểu, và thông qua đường tiêu hóa, làm giảm đáng kể hàm lượng chì trong máu. Cần nhấn mạnh rằng, pectin nhẹ nhàng loại bỏ chì và các chất gây ô nhiễm khỏi các cơ quan trong cơ thể, vì thế đây là lý do để khuyến cáo sử dụng dự phòng bổ sung chế độ ăn uống này thường xuyên và có hệ thống. Thực tế là các axit polygalacturonic và galacturonic được tái hấp thu ở ruột và đi vào máu, có cơ sở để nói rằng, chì được đào thải bởi pectin không chỉ từ máu mà còn từ nơi tích trữ chúng.

Kết quả thu được trong thí nghiệm, được thực hiện bởi S. Makarov và các đồng nghiệp của ông chỉ ra rằng, điều kiện thuận lợi nhất cho sự hình thành của một phức kim loại hoặc pectinic kim loại, dẫn đến việc bài tiết chì tối đa qua nước tiểu và phân, gây ra sự sụt giảm lượng chì trong xương, đạt được ở pectin với mức este hóa 50-60%. Mức độ este hóa của các thành phần pectin củ cải và pectin táo trong thực phẩm bảo vệ sức khỏe được sản xuất phù hợp với tiêu chuẩn TU U 15.8-16475490-001-2001 ("Thực phẩm bảo vệ sức khỏe. Viên Pectin và viên hoàn") là 47-50%, do đó cung cấp cho nó một khả năng tốt để ràng buộc với chì.

Thực phẩm bảo vệ sức khỏe có chứa pectin này xứng đáng được đánh giá tích cực như là một phương pháp hiệu quả của công tác phòng chống nhiễm độc chì mạn tính, liên quan đến việc loại bỏ nhẹ nhàng chì ra khỏi cơ thể và do thực tế rằng, thực phẩm bảo vệ sức khỏe này không có bất kỳ một tác dụng phụ rõ ràng nào.

Nguồn tham khảo:

1. Stantchev St., Kratschanov Chr., Popova M., Kitchev N., Metschev M., Anwendung von granuliertem Pektin bei Bleiexponierten.- “Zeitschrift die gesarnte Hygiene und ihre Grenzgeibiete”. 1979, Bd. Nr.8. s.585-587.

2. Arkhipova O.G., Zorina L.A., Sorokina N.S., « Комплексоны в клинике профессиональных заболеваний». М.: Медицина,1975. -62с.

3. Trachtenberg I.M. , Talakin U.N., Leskova G.E., Kakovskaya V.N., Gridneva N.V., «О профилактическом применении пектина при профессиональном меркурализме».// Гигиена труда и проф.заболевания. N 7.- 1980. C.33-36

4. Методические рекомендации по организации профилактического питания рабочих, контактирующих с тяжелыми металлами.- Москва, МЗ СССР, 1984г,N 3084-84.

5. Lybianova I.P., «Изменения порфиринового обмена как -8- критерий эффективности лечения микросатурнизма.//Фармакология и токсикология, Киев, «Здоров’я», 1982, вып.17, стр.72-75.

6. Lybianova I.P., «Особенности фармакодинамики дитиловых соединений и D- пеницилламина в диагностике и профилактике лечения профессиональных больных.»// Врачебное дело, 1978, стр123-126.

7. Энтеросорбция. / Под ред. Н.А. Белякова.- Л., 1991.-336с.

8. Trachtenberg I.M. , «Пектины, металлы и радиация». Газета «Медицинский работник», 1990, 20 июня.

9. Romanenko A.I., Derevyatogo I.B., Litenko V.A., Obodovych A.N., “К дальнейшему совершенствованию применения пектина как профилактического средства при поступлении радионуклидов в организм человека”// Гигиена труда и профзаболевания, 1991, N 12, стр.1-3.

10. Trachtenberg I.M. ,Lukovenko V.P.,Korolenko T.K., Ostrouhova V.A., Demchenko P.I., Rabotyaga T.E., Krotenko V.V. “ Профилактика применения пектина при хроническом воздействии свинца на производстве.”// Врачебное дело. 1995. N 1-2, стр. 132-135.

 

ĐĂNG KÝ NHẬN TƯ VẤN
Code Vchat ( cop v�o body)