Cảnh giác với THỦY NGÂN (Hg)

1. Nguồn nhiễm Thủy Ngân

- Trong cá biển, những loại cà sống trong vùng ô nhiễm hay những động vật tầng đáy.

- Thủy ngân có trong nguồn nước sinh hoạt, nước giếng.

- Có trong rau trồng trong vùng đất ô nhiễm, bùn,…

- Nhiệt kế

- Thiết bị y tế nhiễm thủy ngân

- Tồn tại trong không khí

2. Tác hại của Thủy Ngân

- Thủy ngân là một nguyên tố xuất hiện tự nhiên được tìm thấy trong không khí, nước và đất.

- Tiếp xúc với thủy ngân - dù chỉ là một lượng nhỏ - có thể gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng và là mối đe dọa đối với sự phát triển của trẻ trong tử cung và đầu đời.

- Thủy ngân có thể có tác dụng độc hại đối với hệ thống thần kinh, tiêu hóa và miễn dịch, và trên phổi, thận, da và mắt.

- Thủy ngân được WHO coi là một trong mười hóa chất hoặc nhóm hóa chất hàng đầu quan tâm đến sức khỏe cộng đồng.

- Rối loạn thần kinh và hành vi có thể được quan sát sau khi hít phải, ăn hoặc tiếp xúc với da của các hợp chất thủy ngân khác nhau. Các triệu chứng bao gồm run, mất ngủ, giảm trí nhớ, ảnh hưởng đến thần kinh cơ, đau đầu và rối loạn chức năng nhận thức và vận động.

3. Những sự kiện nhiễm độc Thủy Ngân tiêu biểu của thế kỉ XX:

+ Vào năm 1953 – 1960, một nhà máy hóa chất ở Nhật Bản đã thải thủy ngân vào vịnh Minamata gây ra hậu quả nặng nề đó chính là chứng bệnh Minamata – một dạng ngộ độc thủy ngân. Thủy ngân tấn công hệ thần kinh trung ương, hệ nổi tiết và ảnh hưởng tới miệng, các cơ quan quai hàm và rang. Sự phơi nhiễm kéo dài gây ra các tổn thương não và gây tử vong. Nó có thể gây ra các rủi ro hay khuyết tật đối với các thai nhi của những phụ nữ đang mang thai.

+ Năm 1972 ở Irac có tới 450 nông dân đã chết sau khi ăn loại lúa mạch đã nhiễm độc thủy ngân do thuốc trừ sâu gây ra.

- Khi xâm nhập cơ thể người, 20% lượng thủy ngân sẽ được thải ra qua đường phân, nước tiểu, mồ hôi, nước bọt và cả sữa. Số còn lại tích lũy ở gan, ruột, thận, tổ chức thần kinh và một số bộ phận khác. Nếu cùng lúc ăn phải một lượng lớn thủy ngân (150-200 mg/lần), bệnh nhân sẽ bị ngộ độc cấp tính, tỷ lệ tử vong lên đến 60%. Nguy cơ tử vong nhanh chóng là 100% nếu lượng thủy ngân ăn phải là 1 g/lần.

- Tiến sĩ Trần Đáng, Phó cục trưởng cục Quản lý An toàn Vệ sinh Thực phẩm, cho biết, nếu ăn phải thực phẩm chứa thủy ngân ở mức thấp (dưới giới hạn an toàn), chất độc này sẽ tích lũy dần trong cơ thể, lâu ngày sẽ dẫn đến ngộ độc mạn tính.

4. Các biểu hiện điển hình của tình trạng ngộ độc thủy ngân bao gồm:

+ Viêm ruột: Ngay khi chất độc xâm nhập, bệnh nhân bị bỏng đường tiêu hóa trên rồi nôn dữ dội, nôn ra mật ra máu. Sau đó, họ bị kiết lỵ, bụng đau thắt, phân có lẫn máu, người vã mồ hôi, lạnh ngắt, có khuynh hướng ngất, tình trạng toàn thân suy sụp (có trường hợp không tiêu chảy).

+ Viêm thận: Từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 6 sau khi nhiễm độc, bệnh nhân bị viêm thận tăng đạm huyết với biểu hiện tiểu ít rồi vô niệu, đạm huyết tăng nhanh chóng, clo huyết giảm.

+Viêm miệng và niêm mạc: Ở thể nhiễm độc bán cấp, bệnh nhân bị suy nhược, ăn kém ngon, sốt nhẹ (38 độ C), răng có cảm giác khó chịu, nước bọt tiết nhiều và có vị kim loại, niêm mạc miệng phù nề, lưỡi sưng phồng, lợi loét và chảy máu, có = màng giả. Ở thể nhiễm độc mạn tính, bệnh nhân có cảm giác cháy bỏng, khó chịu trong miệng khi ăn uống; lợi càng ngày càng viêm nhiễm, sưng phù, sau đó bị loét và hay chảy máu. Trong trường hợp nhiễm độc cấp, bệnh nhân sốt cao, sưng hạch dưới hàm, hơi thở rất hôi.

+ Rối loạn thần kinh: Lúc đầu, bệnh nhân bị run nhẹ các ngón tay. Tình trạng này phát triển dần ra cả bàn tay, cẳng tay rồi lan đến chi dưới và các cơ ở mặt, lưỡi, thanh quản. Trong một số trường hợp, bệnh nhân bị run bắt đầu từ mi mắt, xung quanh mồm, lưỡi và thanh quản hoặc bàn chân. Ở thể bệnh cấp tính, bệnh nhân bị run liên tục, cơn run lan đến toàn bộ các cơ có thể vận động theo ý muốn.

+ Các vấn đề ở mắt: Trong nhiễm độc mạn tính, phần trước thủy tinh thể (cả 2 mắt) có thể bị biến từ màu xám nhạt sang xám sẫm hoặc xám đỏ nhạt. Thị lực không giảm.

- Theo bác sĩ Nguyễn Xuân Mai, Phó Viện trưởng Viện Y tế Công cộng, để đề phòng thảm họa nhiễm độc thủy ngân từ thực phẩm, cần có các biện pháp kiểm soát nguồn nước nhiễm thủy ngân (chủ yếu là nước thải công nghiệp).

5. Nguy cơ đối với môi trường và sức khỏe:


- Thủy ngân là kim loại lỏng khó phân hủy trong môi trường và tích lũy sinh học trong chuỗi thức ăn. Thủy ngân ít độc, nhưng hơi, các hợp chất và muối của nó rất độc, có thể gây tổn thương hệ thần kinh, tiêu hóa, hô hấp, hệ thống miễn dịch và thận. Cho dù ít độc hơn so với các hợp chất của nó nhưng thủy ngân vẫn tạo ra sự ô nhiễm đáng kể đối với môi trường vì nó tạo ra các hợp chất hữu cơ trong cơ thể sinh vật.
- Thủy ngân giải phóng từ chất thải có chứa thủy ngân tồn tại trong môi trường (đất, nước, không khí, trầm tích, thực vật..) hoặc tích tụ trong chuỗi thức ăn và vào cơ thể con người thông qua tiêu thụ cá và hải sản, hoặc hơi thủy ngân trực tiếp hoặc được hấp thụ trên tóc của con người. Để giám sát mức độ thủy ngân trong môi trường do chất thải thủy ngân cần phân tích các mẫu khác nhau, như các mẫu sinh học (cá và tôm, cua, sò, hến), mẫu môi trường (nước, trầm tích, đất và không khí), mẫu thực vật và con người (tóc, máu và nước tiểu).
- Các ảnh hưởng độc hại của thủy ngân đã được biết khá rõ. Hơi thủy ngân ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh trung ương và ngoại biên, phổi, thận, da, và mắt. Nó cũng ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch và gây đột biến.

6. Nhiễm độc cấp tính:

- Thường do tai nạn như vỡ bình chứa, hỏa hoạn, hơi thủy ngân bốc lên với nồng độ cao ảnh hưởng nghiêm trọng đến hô hấp, gây viêm phế quản, viêm phổi kẽ lan tỏa. Gây viêm thận, đạm huyết tăng nhanh ( 4-5g urê/l), giảm clo huyết, nhiễm a xit. Gây viêm loét miệng, bỏng đường tiêu hóa, nôn ra máu, toàn thân suy sụp. Nạn nhân khó thở, chuột rút, giật cơ, mê sảng, bệnh nhân thường tử vong trong vòng 24 đến 36 giờ.


7. Nhiễm độc thủy ngân nghề nghiệp:
- Tiếp xúc với nồng độ thấp kéo dài các triệu chứng chủ yếu trên hệ tiêu hóa và hệ thống thần kinh. Ngoài ra còn có ảnh hưởng đến hệ hô hấp, tiết niệu…
+ Các triệu chứng về tiêu hóa như viêm ruột, xuất huyết đường tiêu hóa, viêm lợi, kèm vị đắng khó chịu, viêm miệng, loét niêm mạc, có thể thấy đường viền thủy ngân màu xanh ở bờ răng lợi.
+ Các triệu chứng về thần kinh: Như run cố ý; bệnh Parkinson với biểu hiện run khi nghỉ và giảm chức năng vận động.
+ Tiếp xúc mãn tính với thủy ngân có thể gây ra run mí mắt và rối loạn thị giác, viêm màng tiếp hợp, thu hẹp thị trường.
+ Thủy ngân có thể gây ung thư, biến đổi gen và gây quái thai.
- Ngoài ra, có thể có cảm giác đau lan tỏa hay bong da bàn tay và bàn chân. Điển hình là bệnh Minamata do ăn cá và sò nhiễm độc methyl thủy ngân tại vịnh Minamata tỉnh Kumamoto Nhật Bản làm nhiễm độc 17.000 người, chết 1.484 người và 10.626 được bồi thường (tính đến 1997).
- Từ năm 1976, nước ta đã công nhận bệnh nhiễm độc thủy ngân là bệnh nghề nghiệp được đền bù.

8. Sản phẩm đào thải Thủy ngân

- Sản phẩm đào thải duy nhất Thủy ngân ra khỏi cơ thể trong thị trường hiện nay chỉ có ProPectin!

Để tìm hiểu thêm thông tin chi tiết truy cập thêm vào fanpage :

  1. Sức khỏe Nam Việt
  2. Bác sĩ thải độc
  3. ProPectin
  4.  
  5. Để tư vấn trực tiếp có thể gọi theo số Hotline : 024.777.99115 và 0912.099.800

 

ĐĂNG KÝ NHẬN TƯ VẤN
Code Vchat ( cop v�o body)